Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

Báo CL&XH: Bạc Liêu: Chuẩn bị xét xử lại vụ mượn đất rồi chiếm luôn không trả

Đất đi mượn và đang trong thời gian tranh chấp nhưng bị đơn vẫn được cấp GCN QSDĐ. TAND 2 cấp tỉnh Bạc Liêu đã bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng phúc thẩm- Tòa Dân sự (TANDTC) đã ra Quyết định giám đốc thẩm hủy 2 bản án, yêu cầu xét xử lại từ đầu.

Bài viết này thuộc danh mục:✅ Pháp luật, được chúng tôi tổng hợp từ báo CL&XH, nguồn bài: https://conglyxahoi.net.vn/toa-an/bac-lieu-chuan-bi-xet-xu-lai-vu-muon-dat-roi-chiem-luon-khong-tra-27348.html

Quyết định giám đốc thẩm của Tòa Dân sự- TANDTC

Mất đất vì cho mượn

Theo bà Nguyễn Thị Trơn, năm 1973 cụ Trương Thị Mười (mẹ của bà Trơn- PV) cho bà Quách Thị Vân mượn nền đất có diện tích 4m x 10m để làm nhà. Quá trình sử dụng bà Vân đã lấn chiếm thêm, diện tích hiện nay là 10m x 55m. Khi cho mượn 2 bên không làm giấy tờ chỉ thỏa thuận bằng miệng là khi nào bà Vân lập gia đình thì sẽ trả lại đất cho cụ Mười.

Năm 1990, cụ Mười đòi đất thì bà Vân hứa nếu tìm được đất khác sẽ trả nhưng không thực hiện. Đến năm 1992, cụ Mười có đơn yêu cầu UBND xã Châu Hưng A giải quyết. Tại buổi hòa giải, bà Vân thừa nhận có mượn đất của cụ Mười và hứa trả nhưng vẫn không thực hiện.

Đến năm 1994, cụ Mười qua đời. Năm 1995, bà Trơn có đơn yêu cầu UBND xã Châu Hưng A giải quyết việc tranh chấp đất giữa gia đình với bà Vân. Tại buổi hòa giải ngày 23/03/1995, bà Vân thừa nhận mượn đất của cụ Mười đồng thời cam kết trả lại đất nhưng trả lại cho cụ Mười chứ không trả lại cho bà Vân.

Còn theo bà Vân (ủy quyền cho chồng là ông Trần Văn Lừng- PV), năm 1973 cụ Mười cho bà Vân nền nhà khoảng 6m x 16m để cất nhà. Việc cho đất hai bên chỉ thỏa thuận miệng chứ không làm giấy tờ. Ngày 04/07/1995, bà Vân có nhận sang nhượng của bà Nguyễn Thị Thủy (con nuôi cụ Mười- PV), một cái đìa ở phía sau với giá 3,5 chỉ vàng. Sau khi nhận đất, bà Vân đã cất nhà ở ổn định đến nay và đã được cấp GCN QSDĐ.

Bà Thủy cho biết bà là con nuôi của cụ Mười. Năm 1995, bà Trơn cho bà Thủy phần đất có chiều ngang khoảng 5m, chiều dài giáp ranh đất của ông Trương Vĩnh Phúc, việc cho đất có làm giấy tờ và có sự chứng kiến của thân tộc. Sau khi nhận đất, bà Thủy không sử dụng mà chuyển nhượng cho anh Trương Minh Tuấn (con của bà Vân- PV) với giá 3,5 chỉ vàng chứ không chuyển nhượng cho bà Vân.

Bức xúc trước việc lấn chiếm của bà Vân, bà Trơn đã khởi kiện ra tòa án. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2010/DSST ngày 27/12/2010, TAND huyện Vĩnh Lợi đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trơn kiện bà Vân đòi quyền sử dụng đất diện tích 175,7m2, tại thửa 703, tờ bản đồ số 10, do bà Vân đứng tên quyền sử dụng đất. Đình chỉ việc giải quyết vụ án phần đất diện tích 126m2 tại ấp Trà Ban 1, xã Châu Hưng A, huyện Vĩnh Lợi.

Ngày 08/01/2011, bà Trơn có đơn kháng cáo với nội dung năm 1973 cụ Mười chỉ cho bà Vân mượn phần đất có diện tích 10,5m x 55m chứ không cho hẳn, nay yêu cầu bà Vân trả lại.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 62/2011/DSPT ngày 27/06/2011, TAND tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên bản án sơ thẩm đồng thời còn quyết định về nghĩa vụ nộp án phí.

Không đồng ý với bản án xét xử phúc thẩm của TAND tỉnh Bạc Liêu, bà Trơn đã có đơn đề nghị TANDTC xem xét bản dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Hủy án phúc thẩm và sơ thẩm

Ngày 28/05/2014, Chánh án TANDTC đã ký Quyết định kháng nghị số 191/2014/KN-DS, kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 62/2011/DSPT ngày 27/06/2011 của TAND tỉnh Bạc Liêu.

Ngày 17/10/2014, Tòa Dân sự- TANDTC ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 422/2014/DS-GĐT vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất với nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Trơn, bị đơn là bà Quách Thị Vân, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thủy.

Ông Lừng khai trong Biên bản hòa giải là có đăng ký kết hôn

Tại quyết định giám đốc thẩm, HĐXX xét thấy việc bà Vân được cấp GCN QSDĐ đang trong thời gian có tranh chấp là không đúng quy định của pháp luật. Trong khi bà Vân cho rằng cụ Mười cho đất chứ không phải cho mượn, một phần thì do bà Vân nhận chuyển nhượng lại. Tuy nhiên, căn cứ theo biên bản hòa giải của UBND xã Châu Hưng A, căn cứ lời khai của ông Lê Minh Khương- Nguyên Trưởng Công an xã; ông Đào Văn Lái- Nguyên Phó ban Tư pháp xã; ông Hồ hữu Lượng- Nguyên Chủ tịch HĐND xã… thì có đủ căn cứ xác định việc cụ Mười cho bà Vân mượn đất và bản thân bà Vân cũng đã thừa nhận mượn đất của Mười, cam kết trả lại đất nhưng không thực hiện.

Về diện tích đất tranh chấp thì bà Vân, bà Trơn có nhiều lời khai không thống nhất. Bà Trơn cho rằng cụ Mười cho bà Vân mượn 40m2 (4m x 10m), sau đó bà Vân lấn chiếm thành 550m2 (10m x 55m). Trong khi đó bà Vân cho rằng, cụ Mười cho bà 96m2 (6m x 16m), còn 126m2 do bà Vân nhận chuyển nhượng từ bà Thủy theo Giấy sang nền đìa ngày 04/07/1995. Tuy nhiên Giấy sang nền đìa lại không thể hiện diện tích đất sang nhượng là bao nhiêu.

Hội đồng giám đốc thẩm cho rằng, trong trường hợp này lẽ ra Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm phải thu thập chứng cứ để làm rõ: Diện tích đất cụ Mười cho bà Vân mượn; Diện tích bà Thủy sang nhượng cho Vân; Việc bà Vân khai cụ Mười cho mượn 96m2 nhưng bà Vân lại được cấp GCN QSDĐ 175,7m2 cũng như trình tự, thủ tục cấp GCN QSDĐ cho bà Vân trong khi cụ Mười, bà Vân đang có tranh chấp thì mới đủ căn cứ để giải quyết vụ án.

Nhưng UBND xã xác nhận không có đăng ký kết hôn

Về phần đất có diện tích 126m2 bà Vân khai nhận chuyển nhượng của bà Thủy mặc dù chưa được cấp GCN QSDĐ nhưng bà Vân đã sử dụng thông qua chuyển nhượng lẽ ra tòa phúc thẩm, tòa sơ thẩm phải thu thập chứng cứ làm rõ diện tích đất bà Thủy chuyển nhượng là bao nhiêu và đất này ai là người có quyền sử dụng để giải quyết mới đúng nhưng tòa phúc thẩm, tòa sơ thẩm lại cho rằng đất chưa được cấp GCN QSDĐ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và tách không giải quyết là không đúng và không triệt để.

Từ những căn cứ và phân tích nêu trên, Hội đồng giám đốc thẩm đã chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án TANDTC đồng thời hủy Bản án dân sự phúc thẩm và Bản án dân sự sơ thẩm. Giao hồ sơ vụ án cho TAND huyện Vĩnh Lợi xét xử sơ thẩm lại từ đầu.

Cần làm rõ tư cách người tham gia tố tụng

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 29/6/2018, bà Vân qua đời. Tại Biên bản hòa giải ngày 28/05/2019 của TAND huyện Vĩnh Lợi, ông Lừng trình bày là chồng của bà Vân và xây dựng hôn nhân từ năm 1991, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Hưng cũ nay là xã Châu Hưng A vào khoảng năm 2002- 2003 nhưng đã thất lạc đăng ký và khi bà Vân còn sống đã ủy quyền cho ông tham gia vụ án này.

Theo như ông Lừng khai bà Vân đã ủy quyền cho ông tham gia vụ án nhưng bà Vân đã chết ngày 29/06/2018, theo quy định của pháp luật thì sẽ chấm dứt việc ủy quyền giữa bà Vân và ông Lừng. Điều này đồng nghĩa với ông Lừng sẽ không còn tư cách tham gia tố tụng.

Ngày 23/10/2019, UBND xã Châu Hưng A có văn bản xác nhận, qua tra cứu thời gian từ năm 2003- 2004 tại sổ lưu dăng ký kết hôn thì trên địa bàn xã không có tên Trần Văn Lừng và Quách Thị Vân. Trong trường hợp nếu đúng như xác nhận của UBND xã Châu Hưng A, ông Lừng và bà Vân không có đăng ký kết hôn, không phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp thì ông Lừng cũng không phải là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Vì vậy, TAND huyện Vĩnh Lợi cần thẩm tra, xem xét tư cách tham gia tố tụng của ông Lừng.

Bạc Liêu: UBND huyện Hồng Dân “ém” công bố bệnh dịch tả lợn Châu Phi
Bạc Liêu: Cảnh giác Công ty Đất Xanh Cần Thơ rao bán “dự án ma”
Bạc Liêu: “Xã hội đen” ngang nhiên tự "thi hành án" khi Tòa đang xét xử
Bạc Liêu: Phát hiện 15 cán bộ đi nhậu, bỏ việc

Tìm kiếm:✨

  • QSDĐ, UBND xã Châu Hưng A, TAND huyện Vĩnh Lợi, GCN, Lừng, Khởi kiện, Tòa dân sự, TAND tỉnh Bạc Liêu, Giám đốc thẩm, Châu Hưng A, Phần đất, Trương Vĩnh Phúc, Vân, Bạc Liêu, Trơn, Lê Minh Khương, Hồ Hữu Lượng, Tòa án nhân dân tối cao, Đăng ký kết hôn, Trương Thị Mười